Sunday, January 16, 2022
HomeThủ thuật máy tính Cách sử dụng Layer trong Photoshop | tạo layer mới trong...

[Update] Cách sử dụng Layer trong Photoshop | tạo layer mới trong photoshop cs6 – Xác minh

tạo layer mới trong photoshop cs6: Here is a bài viết related to this topic.



Bây giờ, mình sẽ tiếp tục chỉ dẫn các bạn cách sử dụng Layer (hay còn được gọi là lớp) trong Photoshop, thực ra Layer là yếu tố căn bản & hay nhất của Photoshop, nếu biết sử dụng nó coi như bạn đã căn bản sử dụng được Photoshop rồi đó. Nội dung này do mình sưu tầm được & có tìm thêm video clip chỉ dẫn rất cụ thể, hãy định hướng cụ thể là mình có nhiều thời gian rãnh để đọc hết bài này nhé, vì bài tutorial này khá dài. Nhưng nếu chuyên cần theo dõi hết thì bạn sẽ hiểu hết cách sử dụng của nó đấy, nên đành chuyên cần thôi. Nào hiện tại cùng với nhau khởi đầu nha 😀

1. Tổng quan về Layer

Cho đến giờ đây mọi thứ tất cả chúng ta thực hành đều được thao tác trên Background Layer. Có thể bạn nhận thấy rằng làm việc với Background layer rất không thú vị. Bất kì thao tác nào bạn tiến hành trên Background Layer đều biến đổi nhà cung cấp Pixel của Background & cách duy nhất để Undo là sử dụng History Palette. Khi bạn biết thêm về layer trong PTS, một kỷ nguyên mới của PTS đang mở ra vơi bạn. Vậy! Layer là cái gì?


Bạn có thể tưởng tượng rằng mỗi Layer trong một ebook như là một tấm phim trong suốt. Khi bạn vẽ lên bất kỳ một tấm phim nào, bạn vẫn có thể nhìn xuyên qua những vùng chưa được vẽ của tấm phim đó. Khi bạn chồng các tấm phim lên nhau, vùng được vẽ của tấm phim ít hơn vẫn được trổ tài xuyên qua vùng trong suốt của tấm phim ở trên nó. Trong PTS, Layer trong suốt được trổ tài dưới dạng các ô kẻ ca rô trắng & xám (trừ khi file ảnh của các bạn chứa Background). Vùng kẻ carô đó không phải là một phần của văn bản, nó chỉ có tác dụng chỉ cho bạn biết này là vùng trong suốt.

Hình bên trổ tài 3 layer chồng lên nhau. Hình người nổi tiếng, con bướm & con cá là bài viết của mỗi layer. Bạn có thể chứng kiến bằng trực giác rằng con cá ở dưới cùng, con bướm ở giữa & người nổi tiếng ở trên cùng. PTS chỉ giải quyết tách biệt từng layer, vì thế bất kì một thao tác trên layer nào, chỉ có tác dụng trên layer đó.

Khi bạn mở một file ảnh kỹ thuật số trong PTS, thông thường file ảnh đó được mở với chỉ một Background Layer. Background là một layer đặc biệt, nó không trong suốt & luôn nằm ở dưới cùng của các layer khác. Khi bạn chồng một layer khác lên trên layer background, layer background sẽ trổ tài những vùng chưa được bao bọc của layer nằm trên nó. Layer background có thể được chuyển thành một layer bình bình bằng cách nháy đúp vào tên của nó trong Layer Palette. Bạn có thể đặt tên mới cho nó hoặc dùng tên mặc định bởi PTS. Đặt tên cho một layer là một thói quen nên được học, bởi vì nó giúp bạn xác nhận được các layer trong Layer Palette đơn giản hơn.

Trong PTS, bạn sử dụng Layer Palette để làm chủ những layer trong ebook. Bên phải là hình minh hoạ của Layer Palette cho chẳng hạn ở trên.

Bạn sẽ sớm nhận thấy rằng Layer Palette là một trong những thành phần được dùng nhiều nhất trong giao diện của PTS. Thực tiễn, bạn có thể xếp đặt lại Layer Palette của các bạn để tạo ra thêm khoảng trông cho nó. Cá nhân tôi, tôi luôn thu nhỏ những Palette ít được dùng xuống cuối cùng của màn hình, để lại chỗ trống cho History Palette & Layer Palette.

Layer Palette hiển thị thứ tự của các layer trong ebook của các bạn dưới dạng những hình thu nhỏ để giúp bạn xác nhận những layer đơn giản hơn. Như đã nói từ trước, bạn chỉ có thể thao tác từng layer một. Layer đang được kích hoạt sẽ có màu xanh như hình dưới.

Hơn nữa, layer đang kích hoạt sẽ có thêm một biểu tượng “paintbrush” ở bên trái của hình thu nhỏ. Nháy kép vào layer trong Layer Palette cho phép bạn truy nhập Layer Style. Bạn có thể đổi tên cho Layer bằng cách nháy kép vào layer đó.

Bên cạnh Paintbrush của mỗi layer là một hình con mắt nhỏ . Nhấn vào biểu tượng này cho phép bạn tắt hoặc mở layer, bằng phương pháp này bạn có thể tạm thời ẩn một layer đi nếu bạn mong muốn. Dấu một layer cũng không chế không cho in layer đó. Bạn có thể đơn giản ẩn hoặc hiện vài layer trong một hàng bằng cách nháy vào những biểu tượng con mắt của từng layer. Để dấu toàn bộ các layer chỉ trừ một, bạn có thể giữ phím Alt & click chuột vào con mắt của layer mà bạn mong muốn giữ.

Mặc dầu bạn chỉ có thể thao tác trên từng layer một, nhưng có 1 vài cách mà có thể thao tác trên một vài layer. Chẳng hạn, di chuyển layer, sao chép layer giữa các ebook & chỉnh sửa layer. Để thao tác những lệnh này, bạn cần phải backlink các layer mà bạn mong muốn làm việc với.

Để backlink vài layer với một layer đang được kích hoạt, bạn phải click chuột vào ô vuông thư hai (giữa biểu tượng con mắt & hình thu nhỏ). Một biểu tượng backlink sẽ hiện ra trong ô vuông đó để cho thấy rằng layer đó được backlink. Cũng như biểu tượng con mắt, bạn có thể click chuột vào từng ô của cột để backlink. Để bỏ backlink một vài layer chỉ với một cú click chuột, bạn có thể giữ phím Alt & click vào biểu tượng Paintbrush để kích hoạt layer đó. Tất cả chúng ta sẽ học cách di chuyển, sao chép & chỉnh sửa layer trong những bài học sau.

Bạn hãy nhìn vào hàng nút ở dưới cùng của Layer Palette. Những nút này (từ trái qua) làm việc với hiệu ứng layer (layer effect), thêm vào Layer Mask, nhóm các layer vào một tập layer (layer set), tạo & bố trí layer, tạo một layer thông thường, & xoá layer. Hiện tại tất cả chúng ta chỉ bạn đến hai nút cuối cùng.

Nếu bạn click chuột vào nút Delete Layer, bạn sẽ được hỏi để công nhận rằng bạn thực sự mong muốn xoá nó. Nếu bạn mong muốn xoá một layer mà không cần công nhận, nhấp & kéo layer đó trong Layer Palette & thả nó vào biểu tượng thùng rác.

Khi bạn bấm vào nút New Layer, một layer mới được tạo ra nằm trên layer đang được kích hoạt. Layer mới sẽ được đặt tên theo mặc định là Layer 1, Layer 2 v.v.. Nếu bạn mong muốn đặt tên cho layer khi bạn tao ra nó, giữ phím Alt khi bạn nhấp vào biểu tượng New Layer. Để tạo ra một layer nằm ở dưới layer đang được kích hoạt, giữ phím Ctrl & bấm vào nút New Layer. Nếu bạn mong muốn cùng một lúc tạo một layer mới nằm dưới layer đang được kích hoạt & đặt tên cho nó, phối hợp Ctrl-Alt & bấm vào nút tạo layer.

See also  [Chuẩn] Nghe VOV online, Nghe đài FM & AM, Radio VOV | nghe radio viet nam truc tuyen - Xác minh

See also  [NEW] Trang trí mâm cỗ trung thu đẹp mắt với 11 cách đơn giản | cach lam mam co trung thu - Pickpeup

Để mau chóng tạo ra một bản sao của một layer, kéo layer đó từ Layer Paletee & thả nó vào nút New Layer. Layer mới được tạo ra sẽ có tên giống như Layer gốc, nhưng có thêm chữ “copy”. Nếu bạn mong muốn cùng một lúc copy & đặt tên cho nó thì giữ phím Alt khi kéo & thả nó vào nút New Layer.

Để biến đổi địa điểm của các layer, bạn chỉ việc nhấp & kéo nó đến địa điểm mà mình mong muốn trong Layer Palette. Một ô vuông sẽ hiện ra cho bạn biết nơi nào layer sẽ được đặt khi bạn kéo chuột. Xem hình.

Hiện tại tất cả chúng ta hãy tìm tòi tuỳ biến của Layer Palette ở trên cùng của nó.

Để khởi đầu việc thực hành chúng ta nên lưu ảnh này lại để thực tập.

Với ô Blend Mode có rất là nhiều chức năng, nhưng nếu bạn là một người thích khám phá, thì tôi để lại phần đó cho bạn khám phá. Vì nói ra cũng khá trừu tượng chi bằng bạn mở một file ảnh & áp dụng từng cái một để thấy hiệu ứng của nó. Bên cạnh ô Blend Mode là ô điều khiển cơ chế Opacity của layer. 100% opacity có nghĩa là layer đó không có tính trong suốt. Trong chẳng hạn bên trái, tôi cài đặt Opacity cho người nổi tiếng là 50%. Lưu ý đến cách mà những layer ở dưới nó được nhìn xuyên qua. Khi bạn kéo thanh trượt về bên trái, layer đó sẽ mờ dần cho đến khi thanh trượt về địa điểm tận cùng bạn sẽ thấy layer đó mất tăm hoàn toàn.

Bạn có thể bố trí mức độ Opacity bằng thanh trượt hoặc điền giá trị số bằng keyboard, chẳng hạn 75 = 75% Opacity. Lưu ý rằng thanh trượt được ẩn ở mũi tên cạnh giá trị số, nháy vào đó một lần thanh trượt sẽ xuất hiên.

Seting cơ chế Opacity là kiểm tra độ trong suốt của layer, không những thế, bạn có thể có những mức độ trong suốt khác nhau trên cùng một layer, thậm chí ngay cả khi Layer đó được thiết lập ở mức 100% Opacity. Bạn làm bằng cách sử dụng dụng cụ Painting tool, Eraser, Layer Mask v.v.. Có rất là nhiều dụng cụ Painting Tool trong PTS có riếng mức độ Opacity độc lập hoàn toàn với Opacity của layer. Mong ước là những phần trên không làm các bạn rối trí, vì phần tối tất cả chúng ta bàn đến công dụng của Transparency Lock & nó rất đơn giản gây lầm lẫn.

Bên dưới Blend Mode & Opacity bạn có một loạt các hộp kiểm để khoá nhiều chức năng thao tác.Từ trái qua phải những nút khoá này có công dụng sau:

  •  transparency,  image pixels,  position, and  all of the above.

Bất kì bao giờ mộ trong các khoá này được kích hoạt, bạn sẽ thấy một biểu tượng cái khoá nhỏ hiện ra bên phải của layer trong Layer Palette. Khi toàn bộ các khoá được kíck hoạt, biểu tượng đó sẽ chuyển sang “đen xì”. Nó sẽ không cho phép bạn biến đổi gì trừ phi Background layer phải được “nâng cấp” thành Layer.

Transparency Lock cho phép bạn thao tác trên một layer nhưng không cho phép bạn biến đổi mức độ trong suốt của layer đó. Cách tốt nhất để giải thích là bằng chẳng hạn.

Trong file ảnh mà tất cả chúng ta đang làm việc, cài đặt mức độ Opacity cho một layer bất kỳ là 50%.

Hãy lấy một màu (tôi dùng màu xanh lá cây) & Fill layer đó với màu đó.

kết quả là toàn thể layer được tô màu & cho layer đó một mức độ Opacity là 50% xanh trong chẳng hạn của tôi.

Hiện tại Undo biến đổi đó & đánh dấu vào hộp kiểm Transparency lock. Tô layer đó với màu của các bạn một lần nữa. Lần này chỉ có một layer được tô màu, & layer này vẫn giữ nguyên giá trị Transparency mà bạn đã tô cho nó là 50%.

Transparency lock ảnh hưởng đến bất kì loại thao tác nào bạn làm trên một layer, bao gồm Painting, Filling & Filter. Để tự thực hành bạn hãy thử hiệu ứng Gausian Blur, & không đánh dấu hộp kiểm Transparency Lock. Sau đó thì Undo & làm lại lần nữa với hộp kiểm Transparency được đánh dấu.

Transparency Lock thực chất không khó để hiểu, nhưng nó rất đơn giản gây nhầm lân nếu bạn chọn nó tại một bao giờ đó & quên là hộp kiểm đang được đánh dấu. Bất kì bao giờ bạn thấy một dụng cụ nào đó không có những hiệu ứng như bình bình, chúng ta nên kiểm soát xem nó hoặc bất kì những khoá khác đang được kích hoạt hay không trước khi …. cà cuống!

Image Pixel Lock vô hiệu hoàn toàn dụng cụ Painting tool vào layer đó. Bạn vẫn có thể di chuyển & Transform bài viết của layer, bố trí mức Opacity, & biến đổi Blend mode nhưng bạn chẳng thể vẽ trực tiếp lên nó.

Position Lock thì bạn tự tìm tòi lấy. Bạn chẳng thể di chuyển hoặc Transform một layer khi nó bị Position Lock, nhưng bạn vẫn có thể vẽ, áp dụng Layer Effect & biến đổi Blend Mode

The position lock is self explanatory. You can’t move or transform a layer that has its position locked, but you can still paint on it, apply layer effects, and change blend modes.

& như bạn đoán, cái cuối cùng tương tự với toàn bộ những cái trên khi chúng đều được chọn.

 Những PTS phiên bản trước 6.0 đều có hạn chế là 100 Layer, nhưng từ PTS 6.0 trở lên hạn chế đó không còn tiếp, thực chất bạn có thể có tới 8000 layer (bao gồm layer sets & layer effect).

Layer chỉ được gìn giữ khi bạn lưu file ảnh dưới định dạng của PTS là PSD. Khi làm việc với những file ảnh chứa nhiều layer, tốt hơn cả là chúng ta nên lưu 1 bản với định dạng của PTS để sau này còn sửa chữa. Để giảm dung tích của một file & để cho nó tương thích với các trình giải quyết ảnh khác bạn luôn luôn cần lưu nó lại với một định dạng khác tuỳ theo mục đích sử dụng.

Trong PTS 6.0, bạn có thể dùng Save As & file ảnh sẽ bị auto Flatten khi bạn chọn một định dạng khác với định dạng của PSD hoặc PDF. Một cảnh báo sẽ hiện ra để báo cho bạn biết một vài dữ liệu của bức ảnh sẽ mất nếu một định dạng nào đó không trợ giúp layer.

Hiện tại có một số chương trình trợ giúp định dạng của PTS là PSD, nhưng không phải hoàn toàn do vậy trước khi mở định dạng của PTS trong một ứng dụng khác, chúng ta nên dễ dàng hoá các layer càng nhiều càng tốt. Bạn có thể Flatten file ảnh bằng tay hoặc dùng lệnh Merge. Tất cả chúng ta sẽ học về lệnh này trong những bài học sau.

Chúng ta nên cảnh báo rằng cơ chế màu của một file ảnh có thể ảnh hưởng đến sự tương tác giữa các layer. Vì nguyên nhân này, bất kì bao giờ bạn biến định dạng PTS từ một cơ chế màu này qua cơ chế khác, bạn sẽ được cảnh báo là phải Flatten file ảnh trước. Bạn có thể tiếp tục mà không cần Flatten nhưng cảnh báo rằng kết quả sẽ biến đổi rất là nhiều lệ thuộc vào layer effect gì & Blending Mode nào mà bạn đã sử dụng. Đương nhiên nếu bạn không thích kết quả đó bạn có thể Undo những biến đổi & Flatten file ảnh trước khi biến đổi cơ chế một lần nữa.

See also  [Nên Xem] Hướng dẫn cách làm mục lục trong word 2013 đơn giản | cách tạo mục lục word 2013 - Xác minh

 

2 Di chuyển, Sao chép & Transform layer.

See also  [Nên Xem] Bảng Cửu Chương Chia Nhân Cộng Trừ Từ 2 Đến 9❤️️ | bảng chia từ 2 đến 9 - Xác minh

Khi bạn đã khởi đầu làm việc với Layer, một dụng cụ trở nên rất trọng yếu này là Move Tool. Lệnh gõ tắt cho nó là V. Bạn có thể tạm thời chuyển sang cơ chế di chuyển dù cho bất kì dụng cụ nào đang được kích hoạt bằng cách nhấn phím Ctrl. Trường hợp ngoại lệ là Pen Tool, Hand Tool, Slice & Shape Tool trong PTS 6+

Move tool được dùng để di chuyển bài viết của Layer, nhưng nó cũng được sử dụng để chọn layer & sao chép layer. Như toàn bộ các dụng cụ tất cả chúng ta đã từng sử dụng, có một vài tổ hợp phím có thể biến đổi chức năng của Move Tool.

  • Giữ phím Shift xuống kết phù hợp với Move Tool sẽ giúp bạn di chuyển theo đường thẳng hoặc một góc 45 độ

  • Giữ phím Alt sẽ cùng một lúc sao chép một layer & di chuyển nó

  • Bạn có thể phối hợp hai phím Shift & Alt

Bạn có thể thao tác với bài viết của layer với lệnh miễn phí Transform. Lệnh này làm việc cũng tương tự với nó làm việc với vùng lựa chọn. Khi bạn trong cơ chế miễn phí Transform, một vùng bao quanh sẽ hiện ra xoay quang bài viết của layer & bạn có thể di chuyển, biến đổi tỉ lệ, xoay chuyển, “làm méo”, “làm lệch” & xoay ngược bài viết của layer bằng cách sử dụng phối hợp chuột & keyboard. Khi layer được backlink, Transformation sẽ áp dụng cho toàn bộ các layer, dù cho chỉ có mỗi layer đang được kích hoạt có hộp bao quanh.

Khi bạn chọn Move tool, vùng tuỳ biến của Move tool hiện ra

trên Option Bar.

Bạn sẽ nhận thấy 1 hộp kiểm cho phép ẩn hoặc hiện vùng bao quanh ở layer được kích hoạt. Nó tạo cho vùng lựa chọn auto đơn giản hơn vì bạn có thể chứng kiến chuẩn xác layer nào đang được kích hoạt, thậm chí khi Layer Palette của các bạn bị ẩn. Nó cũng khá thuận lợi cho bạn để chuyển sang cơ chế miễn phí Transform, chỉ việc rê con trỏ đến một trong những điểm của hộp bao quanh & gọi lệnh Transformation. Khi bạn chuyển sang cơ chế miễn phí Transformation, bạn sẽ nhận biết hộp bao quanh chuyển từ những đường chấm chấm thành màu đen, & thanh Option Bar cho phép bạn điền giá trị số vào để áp dụng Transformation. Để cài đặt Transformation & thoát khỏi Transformation, nháy đúp vào hộp bao quanh, nhấn phím Enter ở vùng keyboard số (máy desktop) hoặc nhấp vào dấu ttiick ở Option Bar. Để thoát khỏi cơ chế miễn phí Transform mà không cài đặt Transform, nhấn Esc trên keyboard hoặc dấu “X” trong Option bar.

 Từ PTS 6+ bạn sẽ nhận thấy một số nút được thêm vào trên Option Bar cho Move Tool. Những nút này sẽ là màu xám trừ khi bạn có hơn 2 layer backlink với nhau.

Nếu Move Tool được kích hoạt & bạn nháy chuột phải vào layer, bạn sẽ thu được một danh mục xuất hiện nó cho phép bạn chọn các layer tại điểm của con trỏ của các bạn. Hãy thử với một file ảnh của các bạn bằng cách nháy chuột phải vào bất kì điểm nào của file ảnh. Đương nhiên điều này chỉ hữu dụng khi bạn đặt tên cho từng layer một cách logic & bạn cũng cần thành lập một thói quen đặt tên cho layer mỗi khi tạo một layer mới.

Sau đây là một số lệnh gõ tắt:

  • Alt-chuột phải chọn layer ở trên cùng ngay dưới con trỏ.

  • Giữ phím Alt & nhấn một trong hai phím [ và ] cho phép bạn di chuyển theo thứ tự từ trên xuống dưới của các layer. Dấu ngoặc trái [ di chuyển xuống, ] di chuyển lên.

  • Alt-shift-[ chọn layer cuối cùng

  • Alt-Shift-] chọn layer trên cùng.

Những lệnh này cũng có trong Layer > Arrange Submenu

Move Tool cũng có thể được sử dụng để sao chép layer từ một ebook này sang một ebook khác bằng cách kéo & thả. Bạn chỉ việc kéo một layer từ một ebook này sang một ebook khác PTS sẽ auto sao chép layer đó ở địa điểm mà bạn thả chuột. Để sao chép một layer từ ebook này sang ebook khác & chỉnh sửa ở giữa, giữ phím Shift trong khi bạn kéo & thả. Nhưng với một ngoại lệ: nếu hai ebook có cùng một địa điểm như nhau, giữ phím Shift trong khi kéo layer PTS sẽ sao chép layer tại điểm mà khi nó ở ebook được sao chép. Chẳng hạn có 2 ebook A & B, ebook A chứa bài viết nghiêng về bên trái. Khi bạn kéo & thả bài viết từ A sang B & giữ phím Shift, bài viết của A sẽ trổ tài chuẩn xác như khi nó ở A.

Cũng chính vì lẽ này mà có những phương pháp nhỏ rất tiện dụng mà tất cả chúng ta chẳng lúc nào cần kích hoạt layer hoặc sử dụng Move Tool. Nếu bạn đang mở 1 hộp thoại tài liểu mới & bạn mong muốn ebook mới có kích cỡ giông như ebook đang được mở, bạn có thể vào Window > Document > New window, PTS sẽ auto cho bạn một cửa sổ mới có kích cỡ chuẩn xác với cửa sổ đang được mở. Bí quyết này cũng có thể dùng được với Image Size & Canvas Size.

Quay lại với Layer & Move Tool bạn cũng có thể sao chép Layer giữa các ebook bằng cách kéo & thả chúng từ Layer Palette vào cửa sổ của ebook đang được mở. Ngoài ra, nếu bạn mong muốn sao chép vài layer một lúc, bạn phải backlink những layer này lại & kéo & thả chúng từ một cửa sổ của ebook này & thả chúng vào ebook khác bằng dụng cụ Move Tool. Bạn chẳng thể kéo & thả nhưng layer được link từ Layer Palette.

Đó chỉ là một trong những trường hợp khi bạn mong muốn link các layer. Có những lúc bạn mong muốn link một vài layer khi bạn mong muốn Merge chúng với nhau. Điều này có thể được thực hiện bằng lệnh Merge Linked trong Layer danh mục. Lệnh tắt của Merge layer là Ctrl-E

cảnh báo Version 6.0+

Trong PTS 6 có thêm một chức năng mới được gọi là Layer Set. Với Layer Set bạn có thể nhóm các layer lại với nhau để tránh sự lộn xộn trong Layer Palette & có thể thao tác một vài layer cùng một lúc. Nó có tác dụng cũng giống như link các Layer, nhưng có nhiều chức năng hơn bởi vì bạn có thể nhân đôi Layer Set.

Nếu bạn mong muốn link các layer khi bạn cần chỉnh sửa & phân tách chúng. Điều này cho phép bạn bố trí địa điểm của layer tương quan với những layer khác.

Tôi mong muốn giới giới thiệu ngắn gọn với bạn một vài điểm đặc thù tiên tiến khác của layer. Tôi sẽ không đi quá sâu & vấn đề, nhưng tôi mong muốn cùng bạn thực hành với nó, bởi vì sau này tất cả chúng ta sẽ sử dụng dấu hiệu này trong những bài học sau.

See also  [Nên Xem] Bảng Cửu Chương Chia Nhân Cộng Trừ Từ 2 Đến 9❤️️ | bảng chia từ 2 đến 9 - Xác minh

Layer > Group with Previous (nhóm với layer trước)Câu lệnh Group with Previous ở dưới Layer List cho phép bạn sử dụng một layer này như là mạng che (Mask) cho layer khác. Khi bạn khái niệm một nhóm cắt, layer ở thấp nhất của nhóm sẽ trở thành mạng che cho những layer khác trong nhóm.

Một ứng dụng trọng yếu của việc nhóm các layer là khi bạn mong muốn viết chữ vào một file ảnh hoặc tô màu. Bạn có thể lựa chọn text & dán vào nó, nhưng khi dòng Text đó chẳng thể sửa chữa được nữa. Với bài tập này, tôi đã tạo ra một ebook với nền là màu trắng, Rainbow Gradient layer, một layer text ẩn & một layer text. Lưu  file này lại rồi mở nó ra trong PTS. Bạn sẽ Fill dòng text với dụng cụ Gradient & áp dụng Texture. (Khi bạn mở file này trong PTS 6, bạn có thể thu được một cảnh báo là một vài layer cần cập nhật. Chọn Cập nhật nếu bạn thu được cảnh báo)

See also  [NEW] Top 50 Mẫu Hình Xăm Cổ Tay Nam Nữ Đẹp Nhất và ý nghĩa | hinh xam don gian tren tay - Xác Minh

Do layer ở tận cùng luôn là layer bị cắt, trước hết bạn cần chuyển layer text xuống dưới Gradient & Texture Layer.

  1. Sử dụng Layer Palette để kéo những layer trong trật tự từ trên xuống dưới:

    • Texture

    • Rainbow

    • Photoshop

    • Background

  2. Kế đến kích hoạt Rainbow Gradient Layer, chọn Layer > Group with Previous hoặc Ctrl – G

  3. Dòng chữ được tô với Gradient

  4. Kích hoạt Texture Layer bằng cách kích chuột vào tên của nó

  5. Nhóm layer này bằng lệnh Ctrl – G, (một cách nữa để nhóm 2 layer là nhấn phím Alt rồi kích chuột trái vào khoảng biên giữa của hai layer trong Layer Palette)

  6. Tại thời điểm này layer Texture bị chắn bởi Gradient do vậy nó là màu trắng đen. Tất cả chúng ta sẽ sử dụng Layer Blending Mode để đổi layer Texture thành màu cầu vồng. Đổ Blending Mode của Texture Layer thành Luminosity.

Hiện tại bạn đã sở hữu dòng chữ được áp dụng Texture, dòng chữ màu vẫn có thể cân chỉnh được.

Bạn đã khởi đầu thấy sự kỳ diệu của layer trong PTS chưa? cứ điềm tĩnh, đây chỉ mới là điểm bắt đầu.

Layer Masks rất giống với Quick Mask hoặc Alpha Channel, nhưng chúng chỉ được link với một layer đơn lẻ. Chúng có thể được cân chỉnh & được cất giữ với ebook của các bạn khi bạn lưu nó trong định dạng của PTS. Layer Mask có thể xuất phát từ lúc mở tài liệ hoặc áp dụng từ một vùng đã được lựa clieej. Layer Mask rất rất hữu dụng bởi vì nó cho phép bạn áp dụng tính trong suốt lên một layer mà không phá huỷ mãi mãi layer. Miễn là Layer Mask được link với một layer, tỉ lệ phân tách của layer mask có thể được ẩn hoặc hiện mà không tác động gì tới layer bạn đầu. Layer mask là dụng cụ lý tưởng để đê tạo những bức ảnh hỗn hợp & dựng phim

Adjustment Layers là dạng layer đặc biệt, chúng được dùng để bố trí những layer nằm ở dưới. Đa phần những thứ ở dưới Image Adjust danh mục cũng có thể được áp dụng bằng cách sử dụng Adjustment Layer. Sử dụng Adjustment Layer có một lợi nhuận độc đáo. Bởi vì …. vì nó có thể bố trí được (Adjustable). Nói cách khác, nếu bạn áp dụng Hue/Saturation Adjustment vào một file ảnh, & sau đó bạn nghĩ lại nhưng biến đổi có lẽ nhiều quá, bạn có thể nháy kép vào Adjustment Layer & quay lại với cơ chế thiết lập. Thêm vào nữa, Adjustment layer được tạo ra trên layer mask, do vậy bạn có thể xoá Adjustment từ vùng được lựa chọn bằng cách Paint vào vùng Adjustment layer với màu đen. Vẽ vào Adjustment layer với màu xám cho phép bạn làm nhạt phai adjustment.

Layer Effects là những hiệu ứng đặc biệt mà có thể áp dụng vào layer. Một điều tuyệt vời của layer effect là chúng tuyệt đối có thể cân chỉnh & rất linh hoạt. Bạn có thể biến đổi bài viết của một layer & layer effect sẽ auto biến đổi vì bài viết của layer đó biến đổi. Bạn cũng có thể bố trí rất là nhiều dấu hiệu của layer effect. Layer effect được nhóm trong 1 hộp thoại chung gọi là “Layer Styles”, hãy tự khám phá nó xem có bao nhiêu chức năng?

Photoshop 6 Fill Layers là một chức năng duy nhất của PTS 6+. Fill Layer có thể chứa một màu đặc, Gradient hoặc Pattern. Khi bạn kiến trúc một layer như là một fill layer, vùng được fill có thể được biến đổi đơn giản bằng cách bấm vào biểu tượng của nó trên layer Palette. Fill layer cũng có Layer mask đính kèm, do vậy fill layer chẳng thể bị tẩy xoa, chỉ bằng phương pháp vẽ lên layer mask.


#5 Layer trong Photoshop là gì? Cách Sao chép Layer trong Photoshop như vậy nào?


Layer trong Photoshop là gì? Cách Sao chép Layer trong Photoshop như vậy nào? Trong phần này. Bạn sẽ am hiểu layer là gì & các thao tác sao chép, xóa, layer mask trong Photoshop 2021.
Đọc qua
Chỉ dẫn tải Photoshop 2021 ▶ https://bit.ly/3engBtI
Nội dung học Photoshop 2021 ▶ https://bit.ly/3oL4ldB
✡ Trang web: https://kieutruong.com
✡ Fb: https://www.facebook.com/kieutruongphoto
kieutruong​ photoshop​ adobe

In addition to looking at this article You can also see other useful information. Many more we provide here: See more

#5 Layer trong Photoshop là gì? Cách Copy Layer trong Photoshop như thế nào?

Tách nền bằng Photoshop 2021 trong 1 phút


Chỉ dẫn tách nền bằng Photoshop 2021 trong 1 phút. Tất cả chúng ta sử dụng dụng cụ Object Selection Tool & Select Subject. Giúp việc tách nền & tách tóc mau hơn lúc nào hết.
Chỉ dẫn tách nền bằng Photoshop 2021: https://bit.ly/367IkvI
Chỉ dẫn mua bản quyền Photoshop 2021: https://bit.ly/2FVkybU
✡ Trang web ▶ www.kieutruong.com
✡ Fb ▶ https://www.facebook.com/kieutruongphoto
✡ Group ▶https://www.facebook.com/groups/kieutruongphoto
✡ Shopee ▶ https://shopee.vn/kieutruongphoto
✡ Thư điện tử ▶ kieutruongphoto@gmail.com
kieutruong KieuTruong kieutruongphoto nikon photoshop

Tách nền bằng Photoshop 2021 trong 1 phút

Photoshop CS6: Căn chỉnh màu sắc hình ảnh bằng lệnh color balance


Chỉ dẫn tự học phhotoshop cs6 chỉnh màu hình ảnh dùng lệnh color balance. Tải file thực hành: http://www.mediafire.com/view/iwfatai841epitf/DSC_1566.jpg . Đọc thêm: https://www.youtube.com/watch?v=fKQ42jMHzQcu0026list=PLhqlVoPVIhJroA7Rd17FFhK5J7ijbb2

Photoshop CS6: Chỉnh sửa màu sắc hình ảnh bằng lệnh color balance

Gộp 2 layer thành 1 layer trong photoshop (how merge two layer in photoshop)


Gộp 2 layer thành 1 layer trong photoshop (how merge two layer in photoshop).
Khám phá photoshop căn bản, gộp 2 hay nhiều layer thành 1 layer mới, gọn nhẹ bảng layer trong photoshop.
merge2layer photoshop gop2layertrongphotoshop

Gộp 2 layer thành 1 layer trong photoshop (how merge two layer in photoshop)

Chỉ dẫn làm mịn da trong PHOTOSHOP với tâm trạng mùa dịch Covid 19


Bây giờ mình chia sẽ mọi người cách khắc phục Mịn Da trong photoshop, một cách cụ thể & một số chức năng về Layer Mask.
Download presetDarkColor : https://bit.ly/3kjYhVB
Stock : Quân Vũ https://bit.ly/3y8ML4j

Nhớ ấn LIKE , SUBSCRIBE u0026 COMMENT cho mình nhé 
facebook:https://www.facebook.com/thailightphoto


THEO DÕI THAI LIGHT QUA :
 youtube  :https://www.youtube.com/c/ThaiLightPhotography
 fanpage  :https://www.facebook.com/thailightphoto
 flickr  : http://dalatmongm.site/2kazvJB

MỌI THẮC MẮC TRONG BÀI VIẾT CÓ THỂ LIÊN HỆ VỚI MÌNH QUA :
MY PHON : 07.65.67.97.66
GMAIL : thailight0311@gmail.com

 CẢM ƠN MỌI NGƯỜI ĐÃ XEM VIDEO
Thanks!

Hướng dẫn làm mịn da trong PHOTOSHOP với tâm trạng mùa dịch Covid 19

In addition to looking at this article You can also see other useful information. Many more we provide here: See more articles in the category.tips/

Thank you for viewing the bài viết. tạo layer mới trong photoshop cs6

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Thủ thuật máy tính
RELATED ARTICLES

Most Popular

Recent Comments